Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

Trí nhớ kho tàng của trí tuệ


TRÍ NHỚ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRÍ NHỚ
Trí nhớ là một hoạt động đặc biệt của não bộ - Hệ thần kinh cao cấp của con người. Trí nhớ chi phối mọi hoạt động của con người, từ trí nhớ vô thức đến trí nhớ có ý thức. Ta biết rằng, khi còn trong bụng mẹ, trẻ sơ sinh đã nhớ được nhịp tim của mẹ. Vì vậy, khi ra đời nếu trẻ khóc, ta áp trẻ vào lồng ngực trẻ sẽ nín vì được nghe nhịp tim của mẹ và trẻ biết trẻ được an toàn. Mỗi ngày một, các thông tin từ cuộc sống sẽ được trẻ đón nhận bằng các giác quan là: Mắt - nhìn, Tai - nghe, Tay - sờ, Mũi - ngữi, Miệng - nếm.... trẻ sẽ ghi nhận vào bộ nhớ của trẻ để trẻ "phát huy" tài năng của mình nếu lần sau trẻ gặp lại. Ví dụ: trẻ nhớ mùi mồ hôi, mùi sữa của mẹ nên khi ngửi nếm trẻ biết ngay là "mẹ của mình". Khi trẻ lớn dần lên, trẻ được dạy dỗ bởi cha mẹ, nhà trường, xã hội... trẻ biết phân biệt điều tốt, điều xấu, điều nên làm, điều không nên làm... và tiến tới trẻ ghi nhận được nhiều thông tin hơn, liên kết chúng lại với nhau và để dành trong bộ nhớ. Khi cần thiết, chúng sẽ sử dụng để hình thành ra những sáng tạo trong học tập, lao động và nghiên cứu.

Ngày nay khoa càng ngày càng phát triển, đòi hỏi trẻ phải học tập nhiều, nắm bắt nhiều thông tin, nên khả năng ghi nhớ của trẻ cần phải rèn luyện và phát huy tối đa. Nhờ có trí nhớ mà chúng ta có những nhà bác học , những nhạc sĩ, văn sĩ tài hoa với những công trình khoa học vĩ đại, những tác phẩm bất hữu như Newton, Einstein, Mozart... làm cho đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng phong phú hơn. Có thể nói trí nhớ chi phối mọi hoạt động của con người từ mức độ thấp tới mức độ cao, là tài sản quý giá của mỗi người và của cả nhân loại.

CÁCH ĐÁNH GIÁ TRÍ NHỚ
Trí nhớ được xem là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trí thông minh. Có bốn tiêu chuẩn để đánh giá trí nhớ:
1. Độ nhanh nhạy: Tốc độ nhớ. Các thần đồng thường chỉ nhìn qua một lần là nhớ ngay.
2. Độ bền: khả năng nhớ lâu.
3. Độ rộng: Trẻ nhớ nhiều sự việc, nhiều chi tiết cùng lúc.
4. Độ chính xác: Nhớ không chưa đủ mà còn phải nhớ chính xác nữa.

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRÍ NHỚ TRẺ.
Theo các kết quả nghiên cứu, trẻ được gọi là thần đồng thường có trí nhớ đặc biệt vượt trội so với các trẻ cùng lứa. Các trẻ này không những nhớ nhanh mà còn nhớ lâu nữa. Trí nhớ của trẻ không giống nhau, có trẻ có trí nhớ tốt nhưng cũng có trẻ có trí nhớ kém. Do đâu có sự khác biệt này? Trí nhớ của trẻ phụ thuộc vào ba yếu tố chính sau đây:
1. Thiên phú: bẩm sinh, di truyền
2. Chế độ dinh dưỡng cho trí não và trí nhớ
3. Môi trường, sự giáo dục và quá trình tập luyện

ĐẶC ĐIỂM CỦA TRÍ NHỚ TRẺ
Trẻ sơ sinh đã hình thành trí nhớ. Trí nhớ ban đầu là vô thức và sẽ tăng dần theo lứa tuổi của trẻ và càng ngày càng có ý thức hơn. Trẻ càng lớn trí nhớ càng hoàn thiện dần. Trí nhớ là cơ sở của trí thông minh. Vì vậy việc bồi dưỡng trí thông minh cho trẻ không thể quên bồi dưỡng trí nhớ cho trẻ. Đối với trẻ nhỏ, trí nhớ hình tượng sẽ giúp trẻ nhớ nhanh và nhớ lâu hơn. Những sự vật, sự việc càng cụ thể, trẻ có nhìn thấy, sờ mó được sẽ càng giúp trẻ nhớ dễ hơn. Do đó đối với lứa tuổi mẫu giáo hay lớp 1, các chuyên gia khuyên nên sử dụng phương pháp xem hình nhận mặt chữ. Khi lớn hơn, trẻ có thể nhớ được qua ngôn ngữ.

QUÊN - SỰ ĐỐI LẬP CỦA TRÍ NHỚ
Quên là sự không nhớ một sự vật, sự việc nào đó hoặc nhớ nhầm sự việc này với sự việc kia. Quên được xem là đối lập của trí nhớ. Tuy nhiên nếu như tất cả sự vật, sự việc đều được nhớ hết thì quả là gánh nặng cho bộ não, thậm chí gây quá tải cho bộ não, dễ dẫn đến tình trạng quên. Vì vậy những chuyện không cần nhớ hoặc không đáng nhớ thì nên quên để não bộ chỉ nhớ những sự vật, sự việc quan trọng cần nhớ.
Mọi người ngưỡng mộ các nhà bác học, các thần đồng có trí nhớ hơn người nhưng thật ra nói như thế không chính xác bằng nói họ có phương pháp ghi nhớ tốt. Họ sẵn sàng quên tất cả những thứ khác để chỉ tập trung cho việc nghiên cứu, tìm tòi của họ. Nhà vật lý học Newton thường quên tên các bạn bè, những cuộc hẹn hò, địa chỉ nhà mình; thậm chí không nhớ mình đã ăn cơm hay chưa. Có người cho rằng ông đãng trí nhưng không hẳn thế bởi toàn bộ trí nhớ của ông đã dành cho các nghiên cứu khoa học. Đây là trường hợp quên có lợi hay còn gọi là quên "bác học"
Tuy nhiên có trường hợp quên hoàn toàn không có lợi cho trẻ: đó là quên do tác động từ bên ngoài, do sợ hãi, lo lắng ... Có trẻ thuộc bài nhưng khi bước vào phòng thi thì quên hết. Ngoài ra, có thể trẻ quên do cơ thể mệt mỏi, tế bào thần kinh hoạt động yếu kém hay mất khả năng hoạt động.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TĂNG CƯỜNG TRÍ NHỚ CHO TRẺ?
Bộ não con người cũng giống như các cơ quan khác trong cơ thể la tuân theo qui luật tự nhiên: Sử dụng thì phát triển, không sử dụng thì thoái hóa. Trong bộ não trẻ 6 tuổi hay người trưởng thành có khoảng 10 tỉ tế bào thần kinh và bộ não có thể chứa một lượng thông tin gấp một triệu lần máy tính điện tử. Hiện tại con người chỉ sử dụng 1/10 công năng của não bộ mà thôi. Có thể nói, trí tuệ của con người là vô tận và ta có thể ví bộ nhớ con người như một máy vi tính hiện đại, có sức chứa khổng lồ. Máy sẽ hoạt động tốt và lưu trữ thông tin nhiều hay ít tùy thuộc vào chúng ta có chăm sóc, bảo trì máy hay không, lưu trữ thông tin có hệ thống , có trật tự hay không, cái không cần lưu trữ có xóa đi chưa....
Đối với trẻ cũng vậy, để giúp trẻ có trí nhớ tốt, các bậc phụ huynh nên kiểm nghiệm những yếu tố sau:
1. Trẻ phải có một bộ não hoàn hảo
2. Trẻ phải được cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho trí nhớ.
3. Chế độ học tập và nghỉ ngơi vừa sức
4. Có một môi trường giáo dục và phương pháp rèn luyện trí nhớ đúng đắn.

1.Dưỡng chất cho trí nhớ
Dinh dưỡng hợp lý để đảm bảo sức khỏe chung và tăng cường trí nhớ. Nguyên tắc chính là trẻ phải ăn đủ các loại chất dinh dưỡng và cân đối để tránh suy dinh dưỡng hay béo phì. Trẻ phải ăn sáng trước khi đi học để tránh tình trạng hạ đường huyết giữa buổi học. Đây là nguyên nhân làm trẻ buồn ngủ, mệt mỏi và mau quên.
- Các chất đạm động vật như thịt cá, trứng, sữa, hải sản.. sẽ giúp trẻ không bị thiếu máu, thiếu sắt và các nguyên tố vi lượng (đồng, kẽm, coban..) là nguyên nhân làm suy giảm trí nhớ.
- Rau và trái cây sẽ cung cấp vitamine cần cho hoạt động trí nhớ.
- Sữa là thực phẩm không thể thiếu vì sữa cung cấp đầy đủ các dưỡng chất như canxi, đạm, vitamine. Mỗi ngày trẻ cần uống 300 - 500 ml sữa. Nên cho trẻ uống sữa sau khi ăn sáng, ăn trưa, hoặc ăn tối.
- Cần bổ sung Coline và các nguyên tố vi lượng từ thực phẩm hàng ngày cho trẻ.
Nếu trẻ có triệu chứng buồn ngủ, hay quên, hoa mắt, suy dinh dưỡng hay béo phì thì cần đưa trẻ đi khám bác sĩ để can thiệp kịp thời.
Muốn có trí nhớ tốt thì trẻ cần phải có:
- Một cơ thể khỏe mạnh: đạt mức chuẩn và cân đối về cân nặng và chiều cao.
- Các giác quan như mắt, tai, mũi... phải lành mạnh để trẻ tiếp nhận thông tin chính xác và kịp thời
- Tế bào não phải lành mạnh để xử lý, dự trữ thông tin nhanh và bền lâu. Quan trọng nhất là trẻ phải có một phương pháp học tập đúng đắn. Dinh dưỡng cho tế bào trí nhớ và dưỡng chất cho sự vận chuyển thông tin đến trung khu trí nhớ cũng rất quan trọng. Khi trẻ được 6 tuổi, khối lượng não và số tế bào thần kinh đã tương đương với người lớn. Vì vậy dinh dưỡng cho trí não trong giai đoạn này là giúp phát triển các hoạt động chức năng não và các tế bào thần kinh. Các vitamine và khoáng chất góp phần rất lớn trong giai đoạn này, đặc biệt là vai trò của các nguyên tố siêu vi lượng, mặc dù hàm lượng của chúng trong cơ thể rất ít (0,05% trọng lượng cơ thể)
- Các thực nghiệm đã chứng minh được thiếu kẽm, đồng, coban, i-ốt sẽ ảnh hưởng trí não. Các nghiên cứu của Bác sĩ Robert cho thấy trẻ học tập tốt có lượng kẽm, đồng trong tóc khá cao và ngược lại trẻ có lượng kẽm, đồng trong tóc thấp thì học kém hơn.
- Một nghiên cứu mới đây của Meck và cộng sự đã khẳng định vai trò quan trọng của Choline trong việc giúp gia tăng trí nhớ cho trẻ, giúp trẻ nhớ nhanh, nhớ lâu và nhớ chính xác hơn.

2. Choline - dưỡng chất quan trọng cho trí nhớ
Choline là tiền chất của Acetylcholine - chất dẫn truyền thần kinh chi phối mọi hoạt động của cơ thể, đặc biệt là trung khu nhớ và hiểu ở hồi hải mã và vách ngăn của não. Choline còn là thành phần chính của màng tế bào thần kinh. Theo kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Zeizei và cộng sự, việc bổ sung choline sẽ giúp gia tăng hoạt động của hệ cholinergic ở não trước, nhớ đó giúp cải thiện khả năng nhớ của trẻ. Ngoài ra cũng theo một kết quả nghiên cứu khác của ông Andrew L. Stoll và cộng sự, bổ sung choline giúp gia tăng tốc độ vận chuyển và xử lý thông tin rõ rệt ở não. Như vậy, Choline có vai trò rất quan trọng trong việc truyền những thông tin, sự vật, sự việc... từ bên ngoài (nhà trường và xã hội) đến trung tâm trí nhớ và hiểu ở não giúp trẻ tiếp thu nhanh, nhớ nhanh, nhớ lâu và nhớ chính xác các sự vật, sự việc.
Choline có trong một số loại thức ăn như lòng đỏ trứng, nước nho, bơ đậu phộng, gan, bông cải.... Vì vậy cần lưu ý các thức ăn cung cấp choline cho trẻ để tránh tình trạng thiếu hụt choline. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, trẻ có thể bị thiếu choline trong các trường hợp sau:
- Cung cấp không đủ choline đúng theo nhu cầu của trẻ từ thức ăn
- Trẻ bị căng thẳng quá mức: học tập, thi cử...
- Trẻ hoạt động thể lực kéo dài.
Thiếu hục choline lâu ngày có thể ảnh hưởng đến chức năng gan (nhiễm mỡ, chết tế bào gan...), thận (cô đặc nước tiểu) và đặc biệt nghiêm trọng là làm tổn thương cơ quan tối cao của con người là não bộ (tổn thương màng tế bào, thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh Acetylcholine)
Tóm lại Choline có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển của trẻ, đặc biệt là gia tăng trí nhớ giúp trẻ học nhanh, nhớ lâu và chính xác.
3. Nghỉ ngơi hợp lý
Sau một thời gian hoạt động trí óc, các tế bào não cũng bị tiêu hao năng lượng và các chất dinh dưỡng. Vì vậy trẻ cần được nghỉ ngơi để phục hồi lại những chất dinh dưỡng dự trữ. Đồng thời trẻ cần có thời gian sắp xếp lại những gì đã học để thực hiện ghi nhớ có kế hoạch thì trẻ mới nhớ lâu được. Nên cho trẻ ngủ đủ giấc để phục hồi trí lực. Trẻ phải ngủ ít nhất 8-9 giờ/ngày mới đảm bảo sức khỏe và trí nhớ.
4. Phương pháp rèn luyện trí nhớ cho trẻ
Bồi dưỡng tính tự tin và lòng say mê
- Trẻ không có tự tin và lòng say mê thì không thể có trí nhớ tốt.
- Thiên tài là nhờ hứng thú. Trẻ có hứng thú với một sự vật, sự việc thì trẻ mới say mê kiên trì để đạt được. Nhà bác học Edison khi tiến hành nghiên cứu thường quên ăn quên ngủ do say mê.
- Trẻ thiếu tự tin thì trí nhớ cũng giảm, phải giúp trẻ tin vào bản thân mình, tin vào trí nhớ của mình.
Mục đích ghi nhớ
Trẻ nhỏ trí nhớ vô thức chiếm ưu thế. Trí nhớ có ý thức ngày càng tăng dần theo tuổi. Vì vậy chúng ta có thể vận dụng khả năng nhớ vô thức của trẻ để bồi dưỡng khả năng nhớ có ý thức. Ví dụ: kể cho trẻ nghe một câu chuyện và chúng ta giao hẹn trước với trẻ là nghe xong trẻ phải kể lại. Như vậy, trẻ sẽ nhớ tốt hơn. Ngoài ra, chúng ta còn phải chú ý giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng và diễn đạt ngôn ngữ.

Tóm lại chúng ta nên đề ra những yêu cầu cần trẻ ghi nhớ thì hiệu quả ghi nhớ sẽ cao hơn.
Bồi dưỡng "trí nhớ có ý thức" là nên giúp trẻ ghi nhớ có mục đích, có kế hoạch. Trẻ càng lớn hệ thần kinh càng trưởng thành, vì vậy muốn trẻ có trí nhớ tốt, việc đầu tiên là phải bồi dưỡng "trí nhớ có ý thức" một cách có mục đích và có kế hoạch. Trẻ chỉ dễ dàng nhớ ra những chuyện chúng hiểu rõ. Những sự việc trẻ không hiểu rõ thường nhớ kém hơn và mau quên. Vì vậy, học vẹt không thể giúp trẻ học nhanh, nhớ lâu được. Ngoài ra, cần chú ý những cảm xúc tích cực, gây ấn tượng tốt sẽ giúp nhớ lâu hơn.

(Tập tài liệu này do bác sĩ Vũ Minh Đức biên soạn và được BS Đỗ Hồng Ngọc biên tập và hiệu đính.)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...